|
Tháng 9/1993, Liên hiệp các xí nghiệp Gạch ngói sành sứ được đổi tên thành TCty Thuỷ tinh và gốm xây dựng gồm 26 đơn vị trực thuộc, thương hiệu Viglacera chính thức ra đời. Sau đó không lâu, Viglacera đã trở thành thương hiệu nổi tiếng và là trụ cột của ngành sản xuất vật liệu xây dựng (SXVLXD) VN.
Với mỗi cán bộ, công nhân của Viglacera, biểu tượng ngọn lửa cháy sáng đã trở thành niềm tự hào, đã rực sáng trong suốt quãng đường phát triển vừa qua. Tôi đã gặp nhiều người đang góp sức cho ngọn lửa Viglacera rực sáng, một trong số đó là nguyên Tổng giám đốc Nguyễn Trần Nam, Doanh nhân VN tiêu biểu 2007. Ông Nguyễn Trần Nam từng làm việc gần 30 năm ở Viglacera khi Tcty còn là Liên hiệp các xí nghiệp Gạch ngói sành sứ xây dựng và mới đây ông được Chính phủ bổ nhiệm vị trí Thứ trưởng Bộ Xây Dựng.
Chúng tôi được Thứ trưởng tiếp tại phòng làm việc nằm trên tầng 2 trụ sở Bộ Xây dựng trên đường Lê Đại Hành. Căn phòng không rộng và bằng phòng làm việc trong lần làm việc của chúng tôi với ông lần trước tại trụ sở TCty đối diện với Trung tâm hội nghị quốc gia Mỹ Đình. Tôi gặp ông lần đầu vào năm 1995. Đã 12 năm, trong lần viết bài về dự án sản xuất sứ vệ sinh cao cấp của Viglacera. Khi đó ông đang là giám đốc Cty Sứ Thanh Trì, một dự án mà lúc ấy, khi bắt đầu khởi động, nhiều người bảo “ốm” và rất ít người bảo “khoẻ”.
12 năm kể từ lần gặp đầu, một quãng thời gian rất dài nhưng tôi không thấy nhiều sự thay đổi ở ông. Dáng đi nhanh nhẹn, đôi lông mày hơi nhíu, liên tục suy nghĩ và trả lời rất nhanh mọi câu hỏi của chúng tôi. Câu chuyện đưa chúng tôi trở lại quãng thời gian hơn 30 năm về trước.
Năm 1974, Cty Gạch ngói sành sứ được thành lập với việc quy tụ 18 xí nghiệp, phần lớn chuyên sản xuất gạch ngói đất sét nung nằm rải rác xung quanh Hà Nội. Những cơ sở vật chất và con người đầu tiên đó chính là cội rễ của TCty Viglacera lớn mạnh và hiện đại ngày nay.
Năm 1975 đất nước hai miền hoàn toàn thống nhất, nhu cầu VLXD cho tái thiết đất nước sau chiến tranh trở nên rất cấp thiết. Những cán bộ chủ chốt và công nhân tay nghề cao của Cty lại tạm chia tay nhau để hình thành nên 2 Cty SXVLXD mới ở miền Nam và miền Trung. Bức tranh công nghiệp VLXD VN được hình thành với 3 DN nòng cốt ở 3 miền đất nước.
Di chứng của mấy chục năm chiến tranh khiến cho ngành SXVLXD cũng như nhiều ngành sản xuất khác lúc ấy cũ kỹ và lạc hậu. Nhà xưởng chủ yếu là cấp bốn, văn phòng chật chội và tạm bợ. Có lẽ cũng chính những ngày sơ khởi thiếu thốn và vất vả ấy nên mãi những năm gần đây, hình ảnh những người làm gạch vẫn luôn được hình dung với những bàn tay thô ráp, những tấm lưng cong oằn cùng quang gánh hay những bước chân huỳnh huỵch với xe cút kít. Đó cũng là bức tranh SXVLXD mà cơ bản là thủ công và sản phẩm chủ yếu là gạch, ngói đất nung của những năm cuối 80, đầu 90 thế kỷ trước.
Câu chuyện của chúng tôi liên tục bị gián đoạn bởi Thứ trưởng Nguyễn Trần Nam có quá nhiều điện thoại gọi tới mặc dù lúc đó đã hơn 12 giờ trưa. Những lần làm việc với ông trước đây khi ông còn ở cương vị Tổng Giám đốc Viglacera chuông điện thoại cũng reo liên hồi nhưng còn ít hơn bây giờ. Trên bàn thì đầy ắp tài liệu và văn bản cho cuộc họp vào lúc 1 giờ 30 chiều.
Ông Nguyễn Trần Nam cho biết, đầu năm 1979 ông nhận nhiệm vụ ở phòng kỹ thuật của Xí nghiệp Gạch ngói Đại Thanh thì cuối năm đó, tháng 9, Thủ tướng Chính phủ ra quyết định nhập 2 Cty SXVLXD miền Nam và miền Trung vào Cty gạch ngói sành sứ xây dựng ở miền Bắc và Liên hiệp các xí nghiệp Gạch ngói sành sứ xây dựng ra đời. Năm 1984 Bộ Xây dựng lại quyết định tách các xí nghiệp nằm ở miền Trung, miền Nam ra khỏi Liên hiệp. Liên hiệp các xí nghiệp gạch ngói sành sứ chỉ quản lý các đơn vị trực thuộc từ Bình Định trở ra Bắc với 37 đơn vị, 8.500 CBCNV. Hầu hết xí nghiệp còn sản xuất thủ công, che gạch bằng phên nứa, ra lò và vào lò hoàn toàn bằng quang gánh và sức người trong cái nóng hừng hực của lò lửa.
Thời kỳ đó, cùng với nhu cầu vật liệu xây dựng tăng nhanh, hàng loạt nhà máy cũng được xây dựng mới như nhà máy gạch Tân Xuyên, Cao Ngạn, Hợp Thịnh, Hạ Long... Các dây chuyền sản xuất công suất 20 triệu viên gạch/năm của Rumani, Bungari, Ba Lan với các thiết bị hầm sấy, lò vòng, lò tuynen, máy cắt tự động... cũng thay dần lò đứng. Điều kiện lao động của công nhân cũng phần nào được cải thiện. Cảnh những người thợ sụt hàng cân sau mỗi ca ra lò vì mất mồ hôi hay những giấc ngủ người “thợ gạch” đêm đêm thấp thỏm lo trời mưa phên che không đủ đã lùi dần vào quá khứ.
Năm 1989, mô hình Liên hiệp ngày càng bộc lộ thế yếu trong thời kinh tế thị trường. Sự cạnh tranh trở nên gay gắt khi các sản phẩm cùng loại do các cơ sở tư nhân sản xuất bung ra. Lúc đó không ít DN trong ngành SXVLXD do Nhà nước quản lý trong đó có cả Liên hiệp Gạch ngói sành sứ đã đứng trước nguy cơ mất thị trường và lỗ vốn.
Nghiên cứu cải tiến công nghệ sấy nung, khâu nặng nhọc nhất trong sản xuất gạch, ngói được xác định là điểm sống còn cần phải đột phá đầu tiên. Lò nung tuynen của Bungari sau gần 10 năm vận hành ở VNa hiệu quả rất thấp. Mất gần 2 năm nghiên cứu và thiết kế, đầu năm 1991, lò nung tuynen “Made in Việt Nam” được lắp đặt lần đầu tiên và đi vào vận hành tại Nhà máy gạch Hữu Hưng. Tới nay, công nghệ này đang được ứng dụng để sản xuất ra đa phần sản lượng gạch ngói đất nung trên toàn quốc. Trước đó, để sản suất 1 triệu viên gạch, mỗi năm cần trên 30 công nhân làm việc thì với công nghệ này, chỉ cần 5 người. Tổng Giám đốc Liên hiệp Trần Ngọc Quang và kỹ sư Đinh Quang Huy - Giám đốc Nhà máy gạch Hữu Hưng, tác giả của công nghệ “nhà kính phơi gạch và lò sấy một kênh” ứng dụng trong công nghệ sản xuất nói trên đã được Nhà nước cấp bằng độc quyền giải pháp hữu ích.
Thành công nói trên cũng thay đổi căn bản điều kiện làm việc của công nhân và mở màn cho một giai đoạn mới về cải tiến kỹ thuật công nghệ. Viglacera bắt đầu triển khai đầu tư sản xuất các loại VLXD cao cấp. Chỉ trong một thời gian ngắn, sau sự ra đời của Nhà máy kính Đáp Cầu, công suất 4 triệu m2 mỗi năm, Liên hiệp được xắp xếp lại thành TCty Thuỷ tinh và Gốm Xây dựng (năm 1993) rồi Nhà máy sứ cao cấp Thanh Trì ra đời (năm 1994)… đã phác hoạ một diện mạo mới cho ngành SXVLXD VN.
Sự xuất hiện của sản phẩm sứ vệ sinh cao cấp Thanh Trì lúc ấy cũng không khác kính Đáp Cầu khi trước. Ít người nghĩ đến sự thành công và nhiều người nghĩ đến thất bại ngay khi bắt đầu khởi động dự án. Suy nghĩ đó không phải vô căn cứ khi tại thị trường phía Bắc, các sản phẩm sứ vệ sinh cao cấp đang là xa lạ và tốc độ phát triển nhà ở còn giậm chân tại chỗ. TCty Viglacera phải vay 30 tỷ để đầu tư một dây chuyền sản xuất nhập ngoại là lý do để không ít người cho là liều lĩnh. Công nghệ mới, thiết bị mới, thị trường còn hẹp khiến lãnh đạo Sứ Thanh Trì vừa lo sản xuất vừa phải đôn đáo khắp nơi lo tiêu thụ sản phẩm. Song những quyết đáp mạnh dạn và đột phá đó đã tạo ra bước phát triển vượt bậc cho TCty cả về công nghệ, thị trường và quản lý. Năm 1994, năm đầu hoạt động theo mô hình TCty, doanh thu toàn TCty đạt trên 324 tỷ đồng, bằng 190% so với năm 1993, nộp ngân sách đạt gần 21 tỷ đồng, bằng 116%.
Nếu lấy năm 1991, đánh dấu sự ra đời công nghệ sản xuất gạch tuynen đầu tiên ở Nhà máy gạch Hữu Hưng thì tới năm 2000, sau 10 năm kể từ khi thực hiện cải cách công nghệ, giá trị tài sản cố định của TCty đã tăng 14 lần, doanh thu tăng 13 lần, nộp ngân sách tăng 17 lần... thu nhập bình quân của người lao động tăng 7 lần. Với phương châm đi đầu về công nghệ, lựa chọn các công nghệ mới nhất, 100% dây chuyền sản xuất của các Cty nòng cốt của TCty như Gạch ốp lát Hà Nội, Thạch Bàn, Gốm xây dựng Hạ Long, Kính Đáp Cầu, Sứ Thanh Trì... đều thuộc thế hệ công nghệ tiên tiến nhất châu Âu. Năm 2001, TCty đầu tư sản xuất hai loại sản phẩm mới là kính nổi và gạch cotto. Những dự án này càng khẳng định vị trí trụ cột trong SXVLXD ở VN của Viglacera.
Bên cạnh phát triển mạnh ngành SXVLXD, Viglacera còn đầu tư sang lĩnh vực mới là kinh doanh bất động sản bằng nhiều dự án hiệu quả như khu công nghiệp Tiên Sơn, Yên Phong (Bắc Ninh) hay Hải Yên, Đông Mai (Quảng Ninh) và các khu đô thị như Đặng Xá - Gia Lâm (Hà Nội), Dự án nhà ở cao tầng tại 671 Hoàng Hoa Thám (Hà Nội)... TCty cũng đầu tư xây dựng Trường đào tạo công nhân kỹ thuật và bồi dưỡng cán bộ chuyên ngành VLXD. Trường đang từng bước được mở rộng, nâng cấp và hợp tác chặt chẽ với các trường đại học trong và ngoài nước để trở thành Trường Cao đẳng. Việc hợp tác với các hãng lớn của Italia, Đức, Anh, Pháp, Tây Ban Nha, Mỹ, Nhật, Trung Quốc... cũng được đặc biệt chú trọng để phát triển các dịch vụ và giải pháp đồng bộ trong tư vấn đầu tư, chuyển giao công nghệ, chế tạo, lắp đặt thiết bị và đào tạo.
Tới nay, Viglacera đã có hơn 30 DN thành viên, hơn 2 vạn nhân lực và hàng loạt dự án khác với tổng vốn đầu tư lên tới hàng chục nghìn tỷ đồng đang và sẽ được triển khai trong tương lai không xa.
Câu chuyện của Thứ trưởng Nguyễn Trần Nam đưa chúng tôi đi suốt chiều dài phát triển của Viglacera, một chiều dài từ sản xuất thủ công đến hiện đại, chiều dài đã gắn chặt với ông từ thời còn là một chàng sinh viên mới ra trường tới khi trở thành một doanh nhân rồi hôm nay trở thành một cán bộ quản lý nhà nước.
- Vậy điều quan trọng nhất dẫn Viglacera đến thành công là gì?
(Cũng giống như những câu hỏi trước, khi chúng tôi mang đến hàng loạt thắc mắc, ông trả lời rất nhanh).
Chính là “dàn” cán bộ quản lý có nghề, say mê, gắn bó với DN. Lợi thế của Viglacera là từ HĐQT, Ban giám đốc TCty đến lãnh đạo các đơn vị thành viên qua nhiều thế hệ đều đoàn kết nhất trí, tận tâm, tận lực với công việc.
- Được biết khi ông còn làm phó giám đốc rồi giám đốc Cty Sứ Thanh Trì, giai đoạn đầu Cty đã rất khó khăn trong tiêu thụ sản phẩm, điều gì là đáng nhớ đối với ông trong giai đoạn đó, thưa thứ trưởng?
Ngày đó, khi đầu tư chúng tôi đã dự tính để đón thị trường cho mấy năm sau nên những ngày đầu đúng là rất khó khăn trong tiêu thụ. Lúc ấy, phải dùng xe tải chở hàng từ Bắc vào Nam, đến tận các tỉnh Đông Nam Bộ. Mọi người còn gọi là đi bán rong nhưng thực chất là vừa bán, vừa giới thiệu để người tiêu dùng có thể nhìn thấy, sờ thấy. Cảnh cán bộ thị trường ngồi xe với lavabô, bồn tắm… lót rơm là điều tôi rất nhớ.
- Năm 1998 khi làm giám đốc Cty Gạch ốp lát Hà Nôi, ông đã lần đầu tiên cho cán bộ, công nhân đi du lịch nước ngoài, khi nhận nhiệm vụ giám đốc FICO (TP Hồ Chí Minh) rồi khi trở lại làm tổng giám đốc Viglacera năm 2004, ông đều tăng lương cho cán bộ công nhân viên lên gấp đôi, điều gì đã dẫn ông tới những quyết định đó?
Trước đây trong một thời gian dài, người ta chỉ nghĩ tới tăng doanh thu mà ít để ý tới lợi nhuận tăng tỷ lệ bao nhiêu so với doanh thu đó. Về chi phí lương thì chỉ chú ý tới mức lương trên người lao động mà chưa để ý tới tỷ lệ chi lương trên giá thành sản phẩm. Chúng tôi chủ trương cải tiến công nghệ, thay đổi thiết bị và sản xuất sản phẩm tốn ít nguyên liệu nhưng giá bán lại cao hơn. Như vậy người lao động nhàn hơn nhưng năng suất lao động tăng, doanh thu tăng, lợi nhuận cao hơn và lương cũng tăng mặc dù tỷ lệ chi phí lao động trên giá thành sản phẩm không tăng. Đó là cơ sở để tăng tính cạnh tranh của sản phẩm, có tiền đi du lịch nước ngoài và tăng lương cho cán bộ, công nhân.
Thiết bị tốt, công nghệ mới mà không có động lực để người lao động thay đổi ý thức, phong cách lao động cũng như tay nghề thì cũng khó có sản phẩm tốt được.
- Các đơn vị của Tcty chủ yếu đặt tên theo địa danh, đây là một hạn chế trong xây dựng thương hiệu. Hiện nay Viglacera đã trở thành một thương hiệu mạnh, Tcty đã làm thế nào để có được kết quả đó?
Gần như 100% các Cty thành viên vẫn mang tên theo địa danh ví dụ gạch Hữu Hưng rồi Thạch Bàn… Trước đây, quảng cáo thì ghi địa chỉ dài lê thê… Các DN thành viên trước đây còn thích quảng cáo tên riêng của mình mà chưa thấy được sức mạnh khi mang chung một họ. Trước đây khi viết tên Cty, các DN thành viên thường để “Viglacera” sau tên riêng khiến khi đọc người đọc thường bỏ mất chữ này. Chúng tôi đã thống nhất để chữ “Viglacera” lên trước để nhấn mạnh và gây ấn tượng ngay cho người đọc. Hiện nay khi quảng cáo trên các phương tiện thông tin đại chúng chỉ còn Viglacera. TCty cũng đề ra các quy định như tham gia hội chợ thì triển lãm chung trong một gian hàng, quảng cáo trên truyền hình phải được TCty phê duyệt… Chuẩn hoá hệ thống nhận diện thương hiệu thống nhất trên namecard, phong bì, thư chào hàng, trên biển bảng, ôtô… Chúng tôi gọi phương án này là tập trung sức mạnh và đã triển khai rất hiệu quả. Lần đầu tiên khi thực hiện triển lãm chung toàn bộ các Cty thành viên trong một gian hàng có người hỏi tôi, Kính Đáp Cầu cũng của Viglacera à? Tôi đã rất buồn. Tuy vậy bây giờ không còn cảnh đó nữa. Hiện nay khi thương hiệu Viglacera đã mạnh, các Cty thành viên được hưởng lợi từ thương hiệu đó, vấn đề tập trung trong cùng một họ Viglacera tự nhiên cũng được các Cty thành viên chú trọng hơn. Thiết bị tốt, con người tốt và sản phẩm tốt cũng là yếu tố rất quan trọng để xây dựng nên một thương hiệu như Viglacera hôm nay.
- Đã từng là doanh nhân và hiện nay với cương vị một Thứ trưởng, ông thấy các DN SXVLXD nói riêng và các DN nói chung đang thiếu điều gì để có thể cạnh tranh khi hội nhập?
Có ý kiến cho rằng DN đang thiếu vốn. Theo tôi, trong giai đoạn hiện nay nếu chúng ta có dự án khả thi, có người quản lý đủ uy tín thì không bao giờ thiếu vốn cho các dự án đó. Tuy nhiên đang rất thiếu cán bộ quản trị DN có đẳng cấp. Một lực lượng người lao động có tác phong và tay nghề đáp ứng được cho hiện đại hoá cũng cần phải gấp rút đào tạo… |