Dáng người đậm chắc, nước da rám nắng, ông Thái Đại Phong đang đôn đáo chuẩn bị cho dự án trồng hơn 1.300 ha mây ở Nghệ An.
Ngày ông Phong lập DN làm mây tre xuất khẩu năm 1993, cả tỉnh Nghệ An chỉ có 150 hộ gia đình biết nghề mây tre thì giờ đây sau 14 năm, Nghệ An đã có tới 20.000 người làm nghề mây tre đan xuất khẩu. Ông là doanh nhân tiêu biểu 2007 - Thái Đại Phong không mang vóc dáng của một doanh nhân giày bóng lộn hay tề chỉnh complet, tôi thấy ông giản dị và gần với vóc dáng một nông dân hơn. Ông là người làm sống lại nghề mây tre truyền thống ở Nghệ An, ông cũng là người dựng nên nghề thêu móc sợi, những nghề đã trở thành mũi nhọn xuất khẩu ở Tỉnh này.
Sinh năm 1957, tuổi Đinh Dậu. Đinh, Nhâm, Quý, Giáp là hàng tứ thiết, đàn ông sinh nhằm những năm này đều là những người có tài và thành đạt nhưng thành không dễ và thường nhiều vất vả. Ông Phong không thuộc những người sợ vất vả. Với ông, khi đã dấn thân vào thương trường nghĩa là vào chỗ nước sôi lửa bỏng, vào chỗ gươm đao mà có người còn bảo dấn thân thành kẻ làm xiếc đi dây, trên là lửa, dưới là chông, dao găm, chân không vững coi như hết đời chứ chuyện mất tiền bạc đâu có gì đáng nói.
Năm 1993, ông Phong thành lập DN với số vốn ban đầu chỉ có 30 triệu đồng, lúc đó ông Phong 36 tuổi. Trước đó hơn 10 năm, từ 1976, ông khoác áo lính và tham gia chiến trường ở Đức Cơ - Gia Lai rồi lại chiến trường Campuchia (năm 1979). Tháng 12/1987, ông Phong chuyển ngành quản lý lao động VN tại CH dân chủ Đức và cái số lận đận vẫn tiếp tục đeo bám. Bức tường Berlin sụp đổ, cũng như hàng nghìn lao động VN tại Đức ngày đó, ông Phong lại một lần nữa buộc phải chuyển nghề. Về nước, hết thương mại, xây dựng rồi vận tải, ông Phong đến với thủ công mỹ nghệ xuất khẩu như một sự tình cờ định mệnh. Suốt trong gần 15 năm qua, ông đã vừa học, vừa làm và vừa đào tạo hàng vạn người khác cùng làm.
Trước đây ở Nghệ An chỉ có 2 làng biết làm nghề mây tre là Nghi Phong, Nghi Thái (huyện Nghi Lộc) thì nay đã có 126 xã của 15 huyện được Cty TNHH Đức Phong đào tạo nghề mây tre xuất khẩu. Một người dạy cho 2 người, 2 người dạy cho 4 người… cứ như vậy, từ sự đào tạo của Cty Đức Phong một lực lượng lao động có nghề mây tre ở Nghệ An giờ đã lên tới gần 2 vạn người. Không dừng lại ở mô hình mà rất nhiều các DN sản xuất mây tre đan xuất khẩu đang áp dụng, đó là giao nguyên liệu đến từng hộ sản xuất theo mẫu rồi thu sản phẩm, hoàn thiện công đoạn cuối và xuất khẩu. Ông Phong có lẽ là một DN đi đầu trong việc thay vì khai thác nguyên liệu tự nhiên đã chủ động trồng và xây dựng vùng nguyên liệu bền vững. Một mô hình sản xuất khép kín quy mô lớn từ trồng nguyên liệu tới sản xuất ra thành phẩm xuất khẩu sẽ thành hiện thực ở Nghệ An trong một tương lai rất gần. Mô hình ấy được xây dựng và vận hành bởi một Doanh nhân, một doanh nhân có bề ngoài chất phác, giản dị gần với dáng dấp của một nông dân hơn là kinh doanh.
Ông Thái Đại Phong sinh năm 1957. Năm 1976 đi bộ đội, thuộc quân số của sư đoàn 308, đóng quân tại Đức Cơ - Gia Lai. Từ tháng 3/1979 đến 12/1987 tham gia chiến trường Campuchia sau đó chuyển ngành và làm công tác quản lý lao động tại Đức. Năm 1993 về nước, thành lập Cty TNHH Đức Phong và bắt đầu đến với nghề thủ công mỹ nghệ từ 30 triệu đồng vốn vay trong chương trình hỗ trợ những người lao động tại CH Dân Chủ Đức hồi hương.
|
Lần đầu tiên tôi gặp ông Phong tề chỉnh complet phẳng tít là lúc ông nhận danh hiệu Doanh nhân tiêu biểu VN -2007 tại trung tâm Hội nghị Quốc gia – Mỹ Đình. Đấy cũng là lần duy nhất thấy ông Phong có một chút của sự hào nhoáng còn trước đấy và sau đấy tôi chưa từng thấy. Tranh thủ ông Phong đến Phòng Thương mại và Công nghiệp VN dự một khoá học ngắn hạn về quản lý, chúng tôi cũng tranh thủ để tìm kiếm thêm chút thông tin cho bài viết. Hôm đó Hội trường lớn của VCCI đang được nâng cấp. Ông Phong cũng chỉ có 30 phút giải lao giữa giờ để dành cho chúng tôi. Do đó cuộc phỏng vấn đành thực hiện nhanh ngay trong gian phòng ngổn ngang những vôi vữa, bao xi măng và trên một bộ bàn ghế cũ đầy bụi. Trong một khung cảnh như vậy, Doanh nhân Thái Đại Phong, ông Doanh nhân tiêu biểu với cup Thánh Gióng và “vòng nguyệt quế” vinh quang hào nhoáng trong đêm vinh danh mà tôi gặp trước đó chưa lâu đã biến mất. Chỉ còn một Thái Đại Phong giản dị đến kỳ lạ, bộ complet cũ, đôi giày không còn mới. Tuy vậy tất cả những thứ cũ kỹ bề ngoài ấy không làm mất đi ánh sáng lấp lánh kỳ lạ toát ra từ đôi mắt khi ông nói về những gia đình nông dân đang giàu lên từ thủ công mỹ nghệ xuất khẩu. Vẻ ngoài cũ kỹ và giản dị cũng không lấy đi được sự quyết tâm, sự mạnh dạn và sự thành công chắc chắn mà chúng tôi nhận thấy ở những dự án đang thành hiện thực. Nhìn đôi tay và dáng người rắn chắc, tôi hỏi ông Phong, anh có chơi môn thể thao nào không? Rất nhanh ông Phong trả lời, mỗi tuần lên rừng mấy lần, còn hơn cả thể thao cậu ạ!
- Điều gì dẫn ông tới trồng rừng thay vì cứ khai thác từ thiên nhiên như nhiều DN khác đang làm, vừa chắc chắn lại không phải bỏ vốn, không phải lo rủi ro?
Mỗi năm khai thác hàng triệu tấn song, mây từ rừng cho sản xuất, rừng cũng đã cạn nhiều rồi. Tôi đã nghĩ đến việc phải trồng nguyên liệu từ khá lâu nhưng bây giờ mới triển khai được. Nếu không nhanh chóng trồng nguyên liệu, chẳng bao lâu nữa với tốc độ khai thác hàng triệu tấn mỗi năm, chúng ta sẽ hết nguyên liệu và tất nhiên cũng chẳng còn hàng thủ công mỹ nghệ, mây tre đan để xuất khẩu nữa mặc dù nhu cầu thế giới ngày càng cao. Trước đây khi mới lập DN và làm nghề mây tre đan XK, lúc đó ở Nghệ An rất ít người biết nghề, chúng tôi đã tổ chức dạy nghề, cấp nguyên liệu và thu mua sản phẩm cho bà con. Đến nay đã khôi phục được mây tre truyền thống và dựng thêm nghề mới là thêu móc sợi, tạo ra cả vùng nghề rộng lớn, mỗi năm làm ra hơn 2 triệu sản phẩm XK. Trồng nguyên liệu là một bước tiếp theo trong kế hoạch phát triển của chúng tôi để tạo ra một vùng nghề phát triển bền vững từ sản xuất nguyên liệu tới thành phẩm.
- Để trồng cả nghìn ha mây như vậy cần đầu tư thế nào?
Dự kiến vốn đầu tư khoảng 95 tỷ đồng. Chúng tôi sẽ thực hiện theo phương pháp là DN đầu tư khoảng 30%, dân sẽ đầu tư công chăm sóc, một phần cây giống và đất. Mỗi ha đầu tư ban đầu khoảng 45 triệu đồng, 30 tháng là có thể bắt đầu thu hoạch. Công chăm sóc mỗi năm hết 9 triệu đồng, mỗi ha một năm có thể thu 7 tấn mây và có thể khai thác liên tục trong 30 năm. Với giá bán như đề án chúng tôi xây dựng là 5 triệu đồng/tấn mây, mỗi ha có thể thu lãi tới 26 triệu đồng mỗi năm. Khi xây dựng đề án chúng tôi dự kiến giá bán là 5 triệu đồng/tấn mây tươi thì bây giờ giá trên thị trường đã là 8 triệu đồng/tấn. Như vậy lợi nhuận sẽ còn lớn hơn.
Không ít DN đã đầu tư cho nông dân trồng nguyên liệu trong các ngành nông nghiệp khác. Tuy vậy đến khi thu hoạch thì xảy ra tình trạng mua tranh bán cướp, tức là các DN không đầu tư nhảy vào trả giá cao hơn để mua tranh, ông đã tính đến tình huống này chưa và có biện pháp gì để quản lý không?
Đúng là vẫn có tình trạng như vậy. Chúng tôi sẽ phối hợp với chính quyền địa phương để cùng quản lý. Bên cạnh đó cũng sẽ có cơ chế cạnh tranh để khắc phục những tình huống như trên có thể xảy ra.
- Được biết ông đã phát triển nghề cho một vùng rất rộng, trong đó rất nhiều là bà con dân tộc thiểu số không quen với tác phong sản xuất công nghiệp. Ông đã làm cách gì để khắc phục nhược điểm này bởi khách hàng nước ngoài luôn đòi hỏi khắt khe về chất lượng sản phẩm?
Ngoài trung tâm đào tạo nghề của Cty mỗi năm đào tạo khoảng 1.000 lao động, chúng tôi phải đưa kỹ thuật đến tận thôn bản, xóm làng để dạy nghề theo phương pháp “cầm tay chỉ việc”. Đầu tư dụng cụ, nguyên liệu cho bà con và bao tiêu sản phẩm. Nhiều nơi xa nhà máy đến 200 km như Bản Noọng (xã Tiền Phong) hay Con Cuông, Châu Quỳ, Quỳ Hợp cách xa 130 km. Nói chung là rất vất vả để có thể thay đổi được tư duy của người nông dân, thay đổi tập quán sản xuất để ra được những sản phẩm theo đúng tiêu chuẩn và yêu cầu của khách hàng. Tuy vậy đến nay nhìn chung những khó khăn tương tự như vậy đã lùi xa. Hiện có khoảng hơn 5.000 người đang nhận nguyên liệu và gia công hàng cho Cty. Hàng hoá do những người nông dân chân lấm tay bùn làm ra đã đi khắp thế giới và làm say lòng người tiêu dùng ở cả những thị trường khó tính nhất như Nhật Bản, Châu Âu, Mỹ…
- Với địa bàn hoạt động rộng và xa trung tâm như vậy, chắc hẳn không ít khó khăn sẽ phát sinh trong vận chuyển, tìm đối tác…?
Sản phẩm sau khi hoàn thiện công đoạn cuối được chuyển tới Hải Phòng hoặc TP Hồ Chí Minh. Nếu chuyển tới Hải Phòng cũng mất 6 triệu đồng/container 40 feet, chúng tôi có thể khắc phục được, không ảnh hưởng nhiều tới giá thành. Tuy vậy để đi ôtô từ Hà Nội đến Nghệ An phải mất 6 tiếng, nhiều khách hàng muốn đến tham quan, tìm hiểu năng lực sản xuất đã quay về giữa đường. Đây là khó khăn mà DN không thể tự mình giải quyết.
- Công tác tạo mẫu sản phẩm vẫn là một khâu yếu hiện nay đối với đa số DN sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ XK. Khâu tạo mẫu được triển khai thế nào ở Đức Phong?
Chúng tôi đã đầu tư nghiên cứu tạo mẫu từ năm 1993, ngay khi thành lập DN. Từ năm 2005 phòng thiết kế được nâng cấp và đầu tư bài bản hơn. Hiện nay bộ phận này ở Đức Phong có 5 người, 1 hoạ sĩ tạo mẫu và 4 chuyên viên kỹ thuật làm hàng mẫu. Sau khi thiết kế, làm ra sản phẩm mẫu, sản phẩm mẫu sẽ được đưa xuống các hộ sản xuất và nhân viên kỹ thuật hướng dẫn kỹ thuật cho bà con để sản xuất hàng loạt. Hiện nay 80% mẫu sản phẩm là do Cty sáng chế, 20% làm theo mẫu do khách hàng cung cấp. Nhờ đầu tư bài bản cho thiết kế, từ năm 2004 đến nay, chúng tôi đã dành được rất nhiều giải thưởng về tạo mẫu cho hàng thủ công mỹ nghệ. |